Nhân dân tệ lưu hành ở biên giới là có lợi cho kinh tế Việt Nam

0
792
Loading...

PHÂN TÍCH RÕ VỀ VIỆC “CHO PHÉP DÙNG TIỀN VIỆT (VNĐ) VÀ TIỀN TRUNG (CYN)” ĐƯỢC PHÉP LƯU THÔNG GIAO DỊCH TẠI BIÊN GIỚI 2 NƯỚC VIỆT-TRUNG!

Cái này phải nói rõ ràng, và mong mọi người chia sẻ để tránh thông tin bị làm “nhiễu, xuyên tạc”… gây rối loạn xã hội.

Trước tiên cần nói rõ, Việc cho phép này bao gồm: “sử dụng đồng tiền thanh toán gồm VNĐ (Việt Nam đồng) hoặc CYN (nhân dân tệ) và ngoại tệ tự do (USD, Đài tệ, Yên Nhật…) chuyển đổi”. Chứ không phải chỉ có tiền Trung Quốc đâu nhé (Điều 3 Thông tư).

Đồng thời cũng nói rõ là việc làm này là việc 02 quốc gia (Việt-Trung) cùng thực hiện song song theo “Hiệp định thương mại biên giới ký ngày 12 tháng 9 năm 2016 giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Hiệp định thanh toán và hợp tác ký ngày 26 tháng 5 năm 1993, sửa đổi ngày 16 tháng 10 năm 2003 giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc”… chứ không phải Chính quyền Việt Nam tự dưng làm 01 mình đâu nhé!

+ Việc cho phép này có nghĩa là Người Việt Nam (dạng Thương nhân, người Việt sống sát biên giới có hoạt động thương mại biên giới Việt Nam – Trung Quốc) nếu có giao dịch với phía Trung Quốc khi qua bên cửa khẩu Trung Quốc (tức qua bên biên giới Trung Quốc, nhưng không vào sâu trong nội địa của Trung Quốc) được phép sử dụng tiền Việt Nam đồng (VNĐ – tiền Việt) để thực hiện giao dịch mua bán. Tức là bọn Trung Quốc cũng cho phép dùng tiền Việt (cùng với tiền Trung) lưu thông giao dịch tại Biên giới của Trung Quốc với Việt Nam… tất nhiên là ở phần biên giới Việt Nam thì tiền Nhân dân tệ (tức tiền Trung Quốc – CNY) cũng được hưởng ưu đãi này.

Việc này tạo thuận lợi cho 02 bên giao thương, trong đó người Việt qua biên giới Trung Quốc giao thương sẽ đỡ phải đi chuyển đổi ngoại hối (đổi tiền Việt ra tiền Trung) để giao dịch. Đồng thời khoản chênh lệch giữa tỷ giá được bù trừ bằng hoàng hóa.

Việc làm này cũng giúp cho tiền Việt Nam – VNĐ được lưu thông quốc tế nhiều hơn 01 chút, giúp tăng giá trị đồng tiền. Chuyện này cũng có lợi cho Việt Nam giảm bị ảnh hưởng khủng hoảng nếu Mỹ bị khủng hoảng kinh tế, đồng USD mất giá.

+ Thương nhân Việt Nam được thu VND tiền mặt hoặc CNY tiền mặt từ việc xuất khẩu hàng hóa qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới và nộp vào tài khoản thanh toán mở tại chi nhánh ngân hàng biên giới. Nguồn thu tiền mặt từ mỗi hợp đồng này chỉ được nộp vào 01 tài khoản thanh toán (bằng VND hoặc CNY) mở tại chi nhánh ngân hàng biên giới.

Khi nộp tiền mặt vào tài khoản, thương nhân phải xuất trình chứng từ và chịu trách nhiệm về tính xác thực của các loại giấy tờ đó. (quy định tại khoản 02, Điều 5 của Thông tư)

-> Điều này cho thấy, Chính quyền Cộng sản Việt Nam mà ở đây đại diện là Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc QUẢN LÝ DÒNG TIỀN Trung Quốc đi qua biên giới chặt chẽ, nhằm đảm bảo việc tiền CNY không ồ ạt vào trong nội địa Việt Nam, đảm bảo thế cân bằng của dòng tiền giữa 02 nước. Bởi lẽ nếu tài khoản được phép thanh toán bằng cả 02 loại tiền thì sẽ dẫn đến việc không quản lý được số tiền được đưa vào trong nội địa thông qua giao dịch tại biên giới.

Tóm lại là, Việt Nam có lợi trong vụ này nhưng không ngu để cho Trung Quốc dắt mũi.

Loading...

+ Người Trung Quốc khi mua tiền mặt là CNY (tiền của họ) bằng tiền Việt (VNĐ) ở bên biên giới Việt Nam lại phải xuất trình các loại giấy tờ, chứng từ theo quy định của ngân hàng (Việt Nam) được phép và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực của các loại giấy tờ, chứng từ đó. (Điều 17 Thông tư, tức là họ dùng tiền của ta để mua lại tiền của họ bên biên giới Việt Nam).

Điều này giúp cho tiền Việt không bị “bốc hơi” khỏi Việt Nam 01 cách dễ dàng, để dẫn tới lạm phát (nhà nước phải in tiền bù). Ngược lại tiền VNĐ được dùng để giao dịch và thu về trong Ngân hàng (Việt) đảm bảo nguồn tiền VNĐ không bị thiếu hụt trong “Quốc khố”!

TÓM LẠI:

Việc cho phép này giúp cho người Việt có làm ăn với Trung Quốc gặp nhiều thuận lợi hơn so với trước đây trong việc phải đổi tiền VNĐ sang tiền Trung hoặc USD… để giao dịch, bởi tiền Việt về tỷ giá chuyển đổi là mất toi 01 khoản, còn nay việc cho phép này giúp bớt đi cái phần “toi 01 khoản” (bằng bù trừ chênh lệch qua hàng hóa) cũng như “thời gian đi đổi tiền”…

Việc làm này giúp giao thương và đồng tiền VNĐ sẽ tăng giá trị nhiều hơn.


Dưới đây là phát biểu của ông Nguyễn Ngọc Minh – Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý Ngoại hối – Ngân hàng Nhà nước:

– Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 19 hướng dẫn về quản lý ngoại hối với hoạt động thương mại biên giới Việt Nam – Trung Quốc, thay thế Quyết định 689 ban hành năm 2004. Vậy cụ thể những đối tượng nào được phép thanh toán bằng nhân dân tệ tại khu vực biên giới?

Theo Thông tư 19, ngoài sử dụng ngoại tệ tự do chuyển đổi (USD) để thanh toán theo thông lệ, thương nhân hoạt động ở biên giới Việt Nam – Trung Quốc có thể  dùng đồng bản tệ (VND hoặc CNY) để thanh toán thông qua chi nhánh ngân hàng biên giới.

Nếu thương nhân Việt Nam xuất khẩu hàng hóa qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới, họ có thể được nhận thanh toán bằng tiền mặt (VND, CNY) nhưng vẫn phải nộp vào ngân hàng trên cơ sở xuất trình các chứng từ hợp lệ.

Còn cư dân biên giới và thương nhân giao dịch tại chợ biên giới chỉ được dùng CNY và VND để thanh toán, không được sử dụng ngoại tệ. Nếu thanh toán bằng tiền mặt, họ chỉ được dùng VND, tuyệt đối không thể dùng CNY. Nói cách khác, người Việt Nam, cư dân biên giới, khách du lịch Trung Quốc tới 7 tỉnh biên giới giáp Trung Quốc đến mua sắm tại chợ biên giới chỉ được thanh toán tiền mặt bằng VND và không có chuyện họ được thanh toán bằng CNY hay ngoại tệ tiền mặt.

– Việc cho phép sử dụng đồng bản tệ như vậy có ích lợi gì cho người dân và trong quản lý Nhà nước?

Khi xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới phải thanh toán bằng ngoại tệ. Nhưng với những cư dân sinh sống hàng ngày tại khu vực biên giới, việc thanh toán bằng ngoại tệ sẽ gây khó khăn cho họ như mất chi phí chuyển đổi ngoại tệ, gây bất tiện trong đời sống hàng ngày… Do đó, việc sử dụng đồng bản tệ trong thanh toán sẽ thúc đẩy thanh toán biên mậu, tạo thuận lợi cho người dân hai nước giao thương.

Chưa kể, điều này cũng giúp thực hiện tốt hơn việc quản lý nhà nước về ngoại hối tại các tỉnh có chung đường biên giới với Việt Nam; tạo sự đồng bộ với các quy định hiện hành về quản lý ngoại hối.

Thực tế không chỉ riêng Việt Nam và Trung Quốc có cơ chế thanh toán biên mậu cho phép sử dụng đồng bản tệ như vậy. Trên thế giới, các nước có chung đường biên giới, có những hợp tác thương mại song phương thông thường cũng đi kèm các điều khoản về thanh toán bằng bản tệ, như Thái Lan, Myanmar, Nga, Trung Quốc…

Loading...

Comments

comments